Đọc hiểu văn bản

Cho người khác niềm tự hào (Đắc nhân tâm -Dale Carnegie); Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm (15 CÂU HỎI, Đề kiểm tra)

Giới thiệu đến các bạn bài viết Soạn bài kiểm tra: Cho người khác niềm tự hào (Đắc nhân tâm – Dale Carnegie); Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm (15 CÂU HỎI, Đề kiểm tra). Ở đây, chúng tôi sẽ cùng các bạn, tìm hiểu các câu hỏi trắc nghiệm kết hợp với tự luận. Đề được biên soạn, sưu tầm theo hướng mới – chương trình 2018.  Mời các bạn cùng tham khảo.

Đề: Cho người khác niềm tự hào ; Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm

Đọc hiểu: 6,0 điểm Cho người khác niềm tự hào ; Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm

Đọc văn bản sau: Cho người khác niềm tự hào ; Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm

Bạn đang xem: Cho người khác niềm tự hào (Đắc nhân tâm -Dale Carnegie); Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm (15 CÂU HỎI, Đề kiểm tra)

CHO NGƯỜI KHÁC NIỀM TỰ HÀO

(Dale Carnegie)

Trong quyển Những kỷ niệm đời tôi với Maeterlinck (Souvenirs, My Life with Maeterlinck), Georgette Leblanc kể về sự chuyển hóa kỳ diệu của một “nàng lọ lem” người Bỉ như sau:

“Một cô phục vụ ở khách sạn lân cận mang thức ăn đến cho tôi. Người ta gọi cô là “Marie rửa bát” vì cô bắt đầu nghề nghiệp của mình bằng công việc bị nhiều người coi thường này. Đã vậy, cô còn xấu xí, mắt lác, chân vòng kiềng. Nhìn chung, dưới mắt người đời, cô là một cô bé lọ lem đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Một hôm, khi cô mang đĩa mì ống tới cho tôi, tôi nói: “Marie này, ở cô có rất nhiều điểm đáng yêu, cô có biết không?”. Marie đứng lặng trong giây lát, gần như ngưng thở. Sau đó cô đặt cái đĩa lên bàn và nói: “Thưa bà, cháu chưa nghĩ đến điều đó bao giờ”. Cô không nói thêm điều gì nữa mà chỉ lặng lẽ lui ra.

Từ ngày đó, những thay đổi kỳ lạ bắt đầu xuất hiện ở cô gái thầm lặng ấy. Tin rằng mình có nhiều điều tốt đẹp mà mọi người chưa biết, cô bắt đầu chăm sóc gương mặt và dáng hình mình một cách kỹ lưỡng. Và rồi bao vẻ thanh xuân bị vùi lấp bấy lâu nay bỗng trỗi dậy trong cô. Hai tháng sau, cô báo tin sẽ kết hôn với người cháu của ông bếp trưởng. Cô nói: “Cháu sẽ trở thành một quý bà!” rồi cô cảm ơn tôi. Tôi vô cùng cảm động khi nghĩ rằng chỉ với một câu nói ngắn ngủi ấy, tôi đã giúp cô thay đổi cả cuộc đời.”

Georgette Leblanc đã cho “Marie rửa bát” niềm tin và động lực để vươn lên. Và Marie đã lấy niềm tin và động lực ấy làm điểm tựa để thay đổi cuộc đời mình.

Trong đời thường, cho người khác một thanh danh là quan trọng; nhưng phê bình một người mà vẫn giữ được danh dự cho người ấy còn quan trọng hơn gấp nhiều lần. Chuyện kể rằng, một buổi sáng, nha sĩ Martin Fitzhugh ở Dublin, Ireland, bị một bệnh nhân than phiền cái bình kim loại đựng nước súc miệng không được sạch sẽ lắm. Thực ra, người bệnh dùng cái cốc bằng giấy chứ không phải cái bình, nhưng rõ ràng để một vật kém vệ sinh trong phòng khám là điều không nên chút nào. Sau giờ làm việc, nha sĩ Fitzhugh viết một bức thư ngắn cho Bridgit, người giúp việc thường đến văn phòng ông hai lần mỗi tuần để dọn dẹp.

Ông viết như sau:

Chị Bridgit thân mến!

Tôi ít khi gặp chị. Nên tôi nghĩ mình phải tranh thủ để cảm ơn chị về công việc dọn dẹp rất tốt mà chị đã làm. Nhân tiện, tôi xin đề nghị thế này: Hiện tại, hai giờ dọn dẹp, mỗi tuần hai lần là quá ít, xin chị cứ tùy ý đến làm việc thêm một giờ nữa vào bất cứ lúc nào chị cảm thấy thuận tiện để làm những việc như lau chùi các bình, lọ, cốc… Dĩ nhiên, tôi sẽ trả thêm tiền ngoài giờ cho chị.

“Ngày hôm sau, khi tôi bước vào phòng làm việc”, ông Fitzhugh kể, “bàn ghế láng bóng, còn ở phòng răng, mọi thứ – kể cả bình nước – đều sạch sẽ, sáng choang và nằm ngay ngắn đúng vị trí của chúng.

Cố gắng này vượt xa những biểu hiện thông thường của chị. Mà chị cũng chẳng làm thêm một giờ nào hết. Chị muốn tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy, lời khen ngợi của tôi”.

Ruth Hopkins, cô giáo dạy lớp bốn ở Brooklyn, New York, phải đương đầu với một khó khăn lớn. Năm học này lớp của cô sẽ có Tommy, cậu học trò được xem là bất trị nổi tiếng nhất trường. Thầy giáo lớp ba của cậu luôn than phiền về cậu. Cậu không chỉ nghịch ngợm theo kiểu thông thường mà còn đánh nhau, trêu chọc bạn gái, ngang ngược với thầy cô. Mọi giáo viên đều nói rằng càng lớn cậu càng tệ hơn. Ưu điểm duy nhất của cậu là khả năng tiếp thu nhanh và làm bài tập ở lớp rất nhanh.

Cô Hopkins quyết định đương đầu với “vấn đề Tommy” ngay lập tức. Sau khi chào các học sinh mới, cô khen từng em một: “Rose à! Chiếc áo của em rất xinh”, “Alicia này! Cô nghe nói em vẽ rất đẹp”. Khi đến bên cạnh Tommy, cô nhìn thẳng vào mắt cậu và nói: “Tommy! Cô biết em là một người có tài lãnh đạo. Cô sẽ nhờ em giúp cô làm cho lớp này thành lớp giỏi nhất khối lớp bốn năm nay, được không?”. Cô nhấn mạnh điều này trong những ngày đầu tiên bằng cách khen ngợi Tommy trong mọi việc cậu làm và rằng điều này chứng minh cậu là một học trò giỏi như thế nào. Có lời khen và danh dự này, cậu bé chín tuổi ấy quyết tâm gìn giữ. Và quả thật, cậu đã không làm cô giáo và mọi người thất vọng vào cuối năm học đó. Gần như bất cứ người nào trên đời cũng đều như vậy chứ không chỉ là những cậu bé hay cô bé. Một cách đơn giản để đánh thức những đức tính tốt đẹp trong con người mình là tin rằng mình có ít nhất một đức tính tốt nào đó. Như thế, dù trên thực tế chúng ta chưa có nó thì sau đó, chúng ta sẽ hành xử như chúng ta đã có đức tính đó vậy.

“Nếu muốn khuyến khích một điều gì ở ai đó, bạn hãy làm như điều ấy chính là đặc điểm vượt trội của người đó. Họ nhất định sẽ nỗ lực phi thường để trở nên như thế” – Dale Carnegie. “Trong cách đối nhân xử thế, nếu ta đối xử với một người như thế nào thì anh ta sẽ trở thành người như thế ấy” – Johann Wolfgang von Goethe

(Đắc nhân tâm – Dale Carnegie, NXB văn hóa Thông tin 2012)

———–

Cho người khác niềm tự hào ; Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm

Lựa chọn đáp án đúng: Cho người khác niềm tự hào ; Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm

Câu 1. 

Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao?

  1. Văn bản nghị luận vì bàn về một vấn đề cụ thể.
  2. Văn bản nghị luận vì dùng ý kiến, lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục người đọc nên Cho người khác niềm tự hào.
  3. Văn bản nghị luận vì có ý kiến, lí lẽ và dẫn chứng.
  4. Cả ý a & b.

Câu 2. 

Luận đề của văn bản trên được thể hiện ở:

  1. Đoạn đầu văn bản.
  2. Nhan đề.
  3. Cuối văn bản.
  4. Đầu các luận điểm.

Câu 3.

Dòng nào nói lên tác dụng chủ yếu của các đoạn in nghiêng trong văn bản?

  1. Là dẫn chứng, để dễ phân biệt với các yếu tố trong văn bản nghị luận.
  2. Là truyện kể làm căn cứ để bàn luận.
  3. Là lí lẽ phân tích biểu hiện của từng luận điểm.
  4. Là bình luận về tính đúng đắn của vấn đề.

Câu 4.

Dòng nào nói lên vị trí của các câu chứa luận điểm ở văn bản Cho người khác niềm tự hào?

  1. Đầu mỗi luận điểm.
  2. Linh hoạt, có thể đứng đầu hoặc cuối luận điểm.
  3. Cuối mỗi luận điểm.
  4. Câu số 2 của luận điểm.

Câu 5.

Dòng nào sau đây không nói lên các luận điểm được triển khai ở văn bản Cho người khác niềm tự hào?

  1. Cho con người niềm tin và động lực để vươn lên;
  2. Phê bình một người mà vẫn giữ được danh dự cho người ấy.
  3. Muốn khuyến khích một điều gì ở ai đó, bạn hãy làm như điều ấy chính là đặc điểm vượt trội của người đó.
  4. Được khuyến khích, họ nhất định sẽ nỗ lực phi thường để trở nên như thế.

Câu 6.

Có thể đảo trật tự các luận điểm ở văn bản Cho người khác niềm tự hào được không? Vì sao?

  1. Được, vì các luận điểm đó không tuân theo logic nhất định.
  2. Không được, vì các luận điểm đó tuân theo logic nhất định.
  3. Được, vì có thể sắp xếp chúng theo tầm quan trọng từ cao xuống thấp.
  4. Không được, vì các luận điểm đó đã được sắp xếp theo trật tự thời gian.

Câu 7.

Vì sao Marie đứng lặng trong giây lát, gần như ngưng thở khi nghe Georgette Leblanc nói về mình?

  1. Vì cô ấy có ngoại hình không đẹp, làm công việc bị coi thường.
  2. Vì Leblanc đã cho “Marie rửa bát” niềm tin và động lực để vươn lên.
  3. Vì cô ấy chưa nghĩ đến điều đó bao giờ.
  4. Cả ý a & c.

Câu 8.

Vì sao lại có những thay đổi kỳ lạ ở “Marie rửa bát” – cô gái thầm lặng ?

  1. Vì cô ấy tin rằng mình có nhiều điều tốt đẹp mà mọi người chưa biết.
  2. Vì cô bắt đầu chăm sóc gương mặt và dáng hình mình một cách kỹ lưỡng nên phát hiện ra mình đẹp.
  3. Vì Leblanc đã cho “Marie rửa bát” niềm tin và động lực để vươn lên.
  4. Vẻ thanh xuân bị vùi lấp bấy lâu nay bỗng trỗi dậy trong cô.

Câu 9.

Câu chuyện về nha sĩ Fitzhugh viết một bức thư ngắn gửi chị giúp việc Bridgit đã chứng minh điều gì?

  1. Cho con người niềm tin và động lực để vươn lên, họ sẽ chứng minh mình.
  2. Phê bình bằng cách khích lệ, thể hiện niềm tin, họ sẽ tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy, lời khích lệ.
  3. Muốn khuyến khích một điều gì ở ai đó, bạn hãy làm như điều ấy chính là đặc điểm vượt trội của người đó.
  4. Được khuyến khích,họ nhất định sẽ nỗ lực phi thường để trở nên như thế.

Câu 10.

Câu chuyện của cô giáo Hopkins với Tommy đã chứng minh cho nhận định nào sau đây?

  1. Cho con người niềm tin và động lực để vươn lên, họ sẽ chứng minh mình.
  2. Phê bình bằng cách khích lệ, thể hiện niềm tin, họ sẽ tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy, lời khích lệ.
  3. Nếu muốn khuyến khích một điều gì ở ai đó, bạn hãy làm như điều ấy chính là đặc điểm vượt trội của người đó.
  4. Trao cho họ một cơ hội là ta đã đánh thức những đức tính tốt đẹp trong con người họ.

Câu 11.

“Cũng đều như vậy” trong câu: “Gần như bất cứ người nào trên đời cũng đều như vậy chứ không chỉ là những cậu bé hay cô bé” được hiểu như thế nào?

  1. Sẽ chứng minh mình xứng đáng được tin tưởng.
  2. Được tin tưởng, khích lệ sẽ không làm mọi người thất vọng.
  3. Sẽ cố gắng vượt xa những biểu hiện thông thường vốn có.
  4. Muốn tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy, lời khen ngợi.

Câu 12.

Những dòng in nghiêng ở cuối văn bản có tác dụng như thế nào?

  1. Dẫn lời của những người nổi tiếng.
  2. Là lời kết, khái quát giá trị của toàn văn bản.
  3. Dẫn lời của những người nổi tiếng làm kết luận cho văn bản.
  4. Câu chứa luận điểm của đoạn cuối.

Câu 13.

Văn bản đã giúp người đọc nhận thấy cần làm gì để Cho người khác niềm tự hào?

  1. Cho con người niềm tin và động lực để vươn lên; phê bình mà vẫn giữ được danh dự; muốn khuyến khích một điều, bạn hãy làm như điều ấy chính là đặc điểm vượt trội của người đó.
  2. Cho con người niềm tin và động lực để vươn lên; cho họ niềm tin vào chính mình.
  3. Luôn khuyến khích và đặt niềm tin vào mọi người.
  4. Tuyệt đối không phê bình, trừng phạt.

Trả lời câu hỏi sau: Cho người khác niềm tự hào ; Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm

Câu 14.

Nhận định sau đây có thể vận dụng vào mọi hoàn cảnh, với mọi đối tượng trong cuộc sống được không? Vì sao? Hãy xây dựng một tình huống giả định, hoặc lấy một ví dụ để phản biện

“Trong cách đối nhân xử thế, nếu ta đối xử với một người như thế nào thì anh ta sẽ trở thành người như thế ấy” – Johann Wolfgang von Goethe

Câu 15.

Em “vi phạm” nguyên tắc nào trong văn bản Cho người khác niềm tự hào chưa? Sau bài đọc này, em rút ra kinh nghiệm nào cho mình trong cách nhìn nhận, đánh giá và ứng xử với mọi người xung quanh?

 

Cho người khác niềm tự hào ; Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm

Gợi ý trả lời 

Lựa chọn đáp án đúng: Cho người khác niềm tự hào ; Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm

Câu 1. D Cả ý a & b.

Câu 2. B Nhan đề.

Câu 3. A Là dẫn chứng, để dễ phân biệt với các yếu tố trong văn bản nghị luận.

Câu 4. B Linh hoạt, có thể đứng đầu hoặc cuối luận điểm.

Câu 5. D Được khuyến khích, họ nhất định sẽ nỗ lực phi thường để trở nên như thế.

Câu 6. A Được, vì các luận điểm đó không tuân theo logic nhất định.

Câu 7. D Cả ý a & c.

Câu 8. C Vì Leblanc đã cho “Marie rửa bát” niềm tin và động lực để vươn lên.

Câu 9. B Phê bình bằng cách khích lệ, thể hiện niềm tin, họ sẽ tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy, lời khích lệ.

Câu 10. C Nếu muốn khuyến khích một điều gì ở ai đó, bạn hãy làm như điều ấy chính là đặc điểm vượt trội của người đó.

Câu 11. B Được tin tưởng, khích lệ sẽ không làm mọi người thất vọng.

Câu 12. C Dẫn lời của những người nổi tiếng làm kết luận cho văn bản.

Câu 13. A Cho con người niềm tin và động lực để vươn lên; phê bình mà vẫn giữ được danh dự; muốn khuyến khích một điều, bạn hãy làm như điều ấy chính là đặc điểm vượt trội của người đó.

 

Cho người khác niềm tự hào ; Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm
Cho người khác niềm tự hào ; Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm

Trả lời câu hỏi sau: Cho người khác niềm tự hào ; Cho người khác niềm tự hào đọc hiểu ; trắc nghiệm cho người khác niềm tự hào ; đọc hiểu cho người khác niềm tự hào ; cho người khác niềm tự hào trắc nghiệm

Câu 14.

– Không thể.

– Bởi vì có những người quá chây ì, không bao giờ nỗ lực, không quan tâm đến sự tiến bộ của mình và mọi người nên họ rất khó nhận ra sự tôn trọng, khích lệ hay coi thường trong đối thoại, đối xử… Và cũng có thể họ không quan tâm đến thái độ của mọi người đối với mình nữa.

Câu 15.

– HS tự “ngoái lại” thời gian trước đây để đối chiếu một số ứng xử, đánh giá của mình với người thân, bạn bè với  những nhận định từ văn bản để có câu trả lời (cần khớp nhận định của văn bản)

– Rút kinh nghiệm: từ những “vi phạm” nguyên tắc nếu mình có; từ những nhận định đắt giá của văn bản.

THPT Lý Thường Kiệt

Đăng bởi: Trường THPT Lý Thường Kiệt

Chuyên mục: Đọc hiểu văn bản

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button