Hỏi đápLớp 12Tài liệu Học Tập

Học thuyết kinh tế nào của C.Mác được coi là hòn đá tảng?

Học thuyết kinh tế nào của C.Mác được coi là hòn đá tảng? Mời các em cùng thầy cô đi tìm câu trả lời trong bài viết sau đây để tìm được câu trả lời chính xác nhất nhé!

Học thuyết kinh tế nào của C.Mác được coi là hòn đá tảng?

Câu hỏi: Học thuyết kinh tế nào của C.Mác được coi là hòn đá tảng?

A. Học thuyết giá trị lao động

Bạn đang xem: Học thuyết kinh tế nào của C.Mác được coi là hòn đá tảng?

B. Học thuyết giá trị thặng dư

C. Học thuyết tích luỹ tư sản

D. Học thuyết tái sản xuất tư bản xã hội

Đáp án đúng: B. Học thuyết giá trị thặng dư

Giải thích: Các Mác – Nhà kinh tế chính trị học, Nhà triết học thiên tài của Đức đã để lại cho nhân loại biết bao học thuyết mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Có thể nói học thuyết giá trị thặng dư là một phát hiện vĩ đại nhất của Mác ở thế kỷ XIX. Nó là “viên đá tảng” trong toàn bộ học thuyết của ông.

Chúng ta, ai cũng biết rằng: bất cứ một học thuyết kinh tế nào ra đời hay hình thành cũng đều dựa trên hai tiền đề là thực tiễn và học thuyết. Bởi lẽ tư duy học thuyết bắt nguồn từ thực tiễn rồi quay trở lại thực tiễn để kiểm nghiệm tính đúng đắn của học thuyết. Hơn nữa một đặc điểm kinh tế của Các Mác là tính kế thừa và tính phê phán: kế thừa cái đã có, còn đúng và phê phán để tìm ra những hạn chế của học thuyết đã có để lọc bỏ, bổ sung, sáng tạo, phát triển và hoàn thiện. Học thuyết kinh tế của Các Mác được trình bày trong tác phẩm vĩ đại của ông là Bộ “Tư bản”.

Học thuyết giá trị thặng dư của Các Mác ra đời trong bối cảnh lịch sử Tây Âu của những năm 40 thế kỷ XIX: – Về thực tiễn kinh tế : lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất dựa trên thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành. Chính nó đã tạo ra cơ sở vật chất để các phạm trù kinh tế với tư cách là bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bộc lộ khá rõ nét.

  • Về thực tiễn chính trị xã hội : là thời kỳ có nhiều biến đổi về chính trị và xã hội đã và đang diễn ra (Cách mạng phản phong kến của Pháp, Công xã Pari và phong trào công nhân Pháp, Phong trào hiến chương, Cuộc cách mạng tư sản 1848 mang tính toàn châu Âu). Đó là những chất liệu quý giá cho sự hình thành các học thuyết của Các Mác .
  • Về tiền đề lý luận: Các Mác đã dựa vào kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh ( W. Petty, A.Smith, D.Ricardo), chủ nghĩa xã hội không tưởng của Pháp, Triết học cổ điển Đức (Hêghen và Phoiơbắc). Các Mác đã kế thừa những tư tưởng của nhân loại, sửa đổi, bổ xung và phát triển học thuyết kinh tế của mình ở trình độ cao hơn.

Giá trị thặng dư là gì?

Giá trị thặng dư ( surplus value) là mức độ dôi ra khi lấy mức thu của một đầu vào nhân tố trừ đi phần giá cung của nó. D.Ricardo đã lấy ví dụ về việc nộp tô cho chủ đất sở hữu những miếng đất màu mỡ.

Mác đã nghiên cứu giá trị thặng dư dưới giác độ hao phí lao động, trong đó công nhân sản xuất ra nhiều giá trị hơn chi phí trả cho họ – yếu tố bị quy định bơi mức tiền lương tối thiểu chỉ đủ để đảm bảo cho họ tồn tại với tư các người lao động. Theo Mác, sự bóc lột công nhân chỉ có thể được loại trừ nếu như tư bản trả cho họ toàn bộ giá trị mới được tạo ra.

A.Marshall cho rằng xét về bản chất, thì tất cả các khoản thu nhập nhân tố cao hơn chi phí nhân tố đều là bán tô trong ngắn hạn. Cho nên theo ông,khi không có các cơ hội khác để một nhân tố cao hơn chi phí nhân tố đều là bán tô trong ngắn hạn. cho nên theo ông, khi không có các cơ hội khác để một nhân tố sản xuất lựa chọn, thì toàn bộ phần thường dành cho nó đều là giá trị thặng dư.

Bản chất của giá trị thặng dư

Để xác định bản chất của giá trị thặng dư, C.Mác đã chia tư bản ra thành hai bộ phận chính gồm tư bản khả biến và tư bản bất biến, chi tiết như sau:

  • Tư bản bất biến chính là một bộ phận tư bản tồn tại, xuất hiện dưới hình thái, dáng vẻ của tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo đảm giữ nguyên và chuyển đổi vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượng sau quá trình sản xuất. Tư bản bất biến được ký hiệu bằng “c”.
  • Tư bản khả biến là một bộ phận tư bản biểu hiện, bộc lộ dưới hình thức là giá trị của sức lao động sau quá trình sản xuất, có xuất hiện lượng tăng thêm nhất định. Tư bản khả biến được ký hiệu bằng “v”.

Từ đó, kết luận rút ra là giá trị hàng hóa sẽ bằng tổng cộng giá trị tư bản bất biến và giá trị tư bản khả biến. Như vậy, bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản hiện lên rất rõ ràng.

Các phương pháp để thu được giá trị thặng dư

Hiện tại có 2 phương pháp chủ yếu để thu được giá trị thặng dư:

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi.

Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được từ việc kéo dài ngày lao động vượt giới hạn thời gian lao động cần thiết không đổi dẫn đến thời gian lao động cần thiết. Ngày lao động kéo dài còn thời gian lao động cần thiết không đổi dẫn đến thời gian lao động thặng dư tăng lên. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chính là kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất, giá trị và thời gian lao động tất yếu không đổi. Cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa chính là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối được sử dụng phổ biến trong giai đoạn đầu chủ nghĩa tư bản. Đây là thời điểm lao động còn ở trình độ thủ công, năng suất lao động còn thấp. Lúc này bằng lòng tham vô hạn, các nhà tư bản giở mọi thủ đoạn kéo dài ngày lao động nhằm nâng cao khả năng bóc lột sức lao động công nhân làm thuê.

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động, cường độ lao động không đổi.

Gía trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được từ việc rút ngắn thời gian lao động tất yếu dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động. Tăng năng suất lao động xã hội mà đầu tiên là ở ngành sản xuất vật phẩm tiêu dùng làm cho giá trị sức lao động giảm xuống. Từ đó thời gian lao động cần thiết giảm sẽ tăng thời gian lao động thặng dư ( Thời gian sản xuất giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản).

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động. Từ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động và cường độ lao động không đổi.

Giá trị siêu ngạch là giá trị thặng dư thu được do các xí nghiệp sản xuất cố giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, khi bán hàng hóa theo giá trị xã hội, sẽ thu được một số giá trị thặng dư vượt trội so với các xí nghệp khác. Gía trị thặng dư siêu ngạch = Gía trị xã hội của hàng hóa- Gía trị cá biệt của hàng hóa – Gía trị cá biệt của hàng hóa. Gía trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối; là động lực trực tiếp thúc đẩy tăng năng suất lao động.

Vì muốn thu được nhiều giá trị thặng dư và chiếm ưu thế cạnh tranh, các nhà tư bản áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Mục đích là cải tiến, hoàn thiện phương pháp quản lý kinh tế, nâng cao năng suất lao động. Kết quả giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội. Nhà tư bản nào áp dụng cách này thì hàng hóa khi bán sẽ thu được một giá trị thặng dư nhiều hơn nhà tư bản khác.

Nguồn gốc của giá trị thặng dư

Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua sức lao động và tư liệu sản xuất. Vì tư liệu sản xuất và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quá trình sản xuất, người công nhân làm thuê đã tạo ra giá trị bằng giá trị sức lao động của chính mình.

Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dungh các tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào sản phẩm; và bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư.

Gía trị hành hóa (W) được sản xuất ra gồm hai phần: giá trị những tư liệu sản xuất hao phí được lao động cụ thể bảo tồn và chuyển vào sản phẩm ( giá trị cũ, ký hiệu c) và giá trị mới (v+m) do lao động trừu tượng của công nhân tạo ra ( lớn hơn giá trị hàng hóa sức lao động). Phần giá trị mới do lao động sống tạo thêm ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động, được nhà tư bản thu lấy mà không trả cho người lao động, được gọi là giá trị thặng dư(m).

Như vậy, lao động sống là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư.

Ý nghĩa của giá trị thặng dư

Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu phương thức sản xuất trong chủ nghĩa tư bản, học thuyết giá trị thặng dư của Các Mác đã vạch trần, chỉ ra xu hướng bóc lột của nhiều nhà tư bản cũng như mâu thuẫn kinh tế giữa giai cấp vô sản và tư sản.

Mang ý nghĩa thực tiễn, học thuyết giá trị thặng dư đặc biệt quan trọng với hành trình xây dựng, đổi mới và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nếu tận dụng lý thuyết một cách đúng đắn, điều đó sẽ góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như nâng cao đời sống xã hội ở nước ta.

*****

Trên đây là nội dung bài viết trả lời cho câu hỏi Học thuyết kinh tế nào của C.Mác được coi là hòn đá tảng? do thầy cô trường THPT Lý Thường Kiệt biên soạn. Hy vọng nội dung bài học sẽ là nguồn tài liệu hữu ích phục vụ tốt các em trong quá trình học tập. Chúc các em luôn đạt điểm cao trong mọi bài kiểm tra, bài thi trên lớp.

Bài viết được biên soạn bởi thầy cô trường Lý Thường Kiệt trong chuyên mục Tài liệu học tập

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button