Đọc hiểu văn bản

Một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu (Xuân Diệu) ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu (20 CÂU HỎI, Đề kiểm tra)

Giới thiệu đến các bạn bài viết Soạn bài kiểm tra: Một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu (Xuân Diệu) ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu (15 CÂU HỎI, Đề kiểm tra). Ở đây, chúng tôi sẽ cùng các bạn, tìm hiểu các câu hỏi trắc nghiệm kết hợp với tự luận. Đề được biên soạn, sưu tầm theo hướng mới – chương trình 2018.  Mời các bạn cùng tham khảo.

Đề: một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu

Đọc hiểu: 6,0 điểm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu

Đọc văn bản sau: một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu

Bạn đang xem: Một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu (Xuân Diệu) ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu (20 CÂU HỎI, Đề kiểm tra)

MỘT BÀI THƠ CỦA NGUYỄN TRÃI: BA TIÊU

(Xuân Diệu)

Trong 254 bài thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, có một bài thơ chỉ 4 câu thôi mà tôi trải qua 24 năm, mới dám tự bảo mình rằng gọi là hiểu. Đó là bài “Ba tiêu”.

“Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm

Đầy buồng lạ, mẫu thâu đêm

Tình thư một bức phong còn kín,

Gió nơi đâu gượng mở xem”.

Người đời trước viết trên lụa: tàu lá chuối non kia màu xanh ngọc thạch, còn cuộn lại như lụa cuốn, như bức thư quý báu trang nhã viết trên lụa bạch, đó là một bức thư tình e ấp, vậy mời trang phong lưu là gió, hãy mở thư xem…

Câu thứ hai: Đầy buồng lạ mầu thâu đêm, ai có ngờ lại là câu khó hơn cả, mà cũng “diệu” hơn cả. Bản Trần Văn Giáp phiên âm là mầu và chú thích: – “Cứ theo chữ Nôm viết ở nguyên bản, cho nên phiên âm là Mầu, nhưng đáng lẽ là mùi mới đúng. Mùi thâu đêm là mùi hương suốt đêm, chú như vậy, thì “buồng lạ” tức là buồng chuối chín thơm ngào ngạt. Bản Đào Duy Anh chú: – “Buồng lạ”: chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ. Mầu thâu đêm: “chuối chín thơm ngát suốt cả đêm”. Hai lời chú thích đều hiểu buồng là buồng chuối. Và tôi cũng hiểu như thế, chứ không có cách nào khác.

Tuy nhiên, những năm gần đây, tôi suy nghĩ lại, và bỗng nhận thấy một điều, nhưng tôi thấy không tiện nói ra. Vì không tiện nói ra, cho nên tôi không dám dây dưa đưa dẫn hai câu đầu. Bởi, nếu giới thiệu cả 4 câu, thì tôi bắt buộc phải góp ý kiến rằng: đây là hai bài thơ chồng lên nhau, chứ không phải một bài, bởi hai câu đầu nói tới “buồng lạ”, buồng chuối, hai câu sau thì nói tới lá chuối non. Mà khi cây chuối đã trổ ra buồng, thậm chí buồng chuối chín, thì nó không còn có thể ra lá non, thậm chí lá non cuốn lại, được nữa. Như vậy phải là hai cây chuối khác nhau ở trong bài thơ, như vậy là hai bài thơ chắp vào nhau trong 4 câu, chứ không phải một bài tứ tuyệt, nhất quán, nguyên khối. Như vậy thì Ức Trai làm thơ như thế hay sao?

[…]Đến hôm nay, tôi rất cảm ơn người bạn của tôi, anh ấy bảo với tôi: Trong thơ chữ Hán của Ức Trai, có bài Lãnh noãn tịch, có câu thơ: “Hồng lâu dạ vĩnh giác xuân tử” nghĩa là: “Lầu hồng đêm thâu cảm thấy có một mùa xuân riêng mình”, tức là thơ chữ Hán cùng với một tứ với thơ chữ nôm “Đây buồng lạ, mẫu thâu đêm” đó. Tôi bỗng “ồ” lên một tiếng và thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ. Tôi không cần phải “phát hiện” hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết, mà đây chính là một bài thơ nguyên khôi, nhất quán, của Nguyễn Trãi làm, tại vì tôi chưa hiểu nổi, nên mới thắc mắc. Trước hết, trong câu mở đầu: “Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm”. Ta hẵng để ý: tại sao Nguyễn Trãi không viết “lại tốt thêm”? Lại tốt thêm thì có vẻ dung tục, không đủ trân trọng đối với chủ từ của câu chẳng qua theo đà, theo thế, theo thời, mà thêm tốt, còn “tốt lại thêm” tức là: Vốn cái tốt đã là bản chất rồi. Nay từ lúc bén hơi xuân thì tốt thêm.

Hóa ra cái thần của bài thơ không ở hai câu 3, 4, một hình tượng, mà ở câu 2, một xúc cảm: “Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm”. Đầy phòng, đầy buồng khuê, là một sự “lạ”, mầu đây, theo ý tôi, là nhiệm mầu, mầu nhiệm thâu đêm, đồng thời và cũng cần hiểu mầu như ở trong “đất mầu”. Ôi! Nếu là thơ Ức Trai nói về sự rung động đầu tiên của giai nhân vào buổi đương thời thì việc ấy có giảm gì uy tín của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi? Bao nhiêu nhà thơ lớn trước Nguyễn Trãi ở Á Đông, ở trên thế giới đã nói và nói một cách trang nhã, sao lại muốn rằng Nguyễn Trãi đừng nói, dù là nói một cách trang nhã? Sự thật, là Nguyễn Trãi đã nói rồi, câu thơ chữ Hãn dạ vĩnh giác xuân tư, “đêm thâu cảm thấy một xuân riêng” bênh vực cho câu thơ chữ nôm “đầy buồng lạ mầu thâu đêm”, và chữ “lạ” với chữ “mầu” làm cho câu thơ chữ Nôm còn dào dạt ngạt ngào hơn câu thơ chữ Hán, đến nỗi đầy cả một buồng. Hơn năm trăm năm sau, hàng cháu chắt của nhà thơ Ức Trai là nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) cũng có một tứ thơ gần với Ức Trai, và đã gộp cả chữ “lạ” trong thơ chữ Nôm và chữ “xuân” trong thơ chữ Hán của Ức Trai: “Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua – Mùa xuân tới, mà không ai biết cả”.

Nếu hiểu buồng là buồng chuối như tôi đã hiểu, và như hai nhà phiên âm Trần Văn Giáp và Đào Duy Anh đã hiểu, thì bài thơ lại tách ra làm hai bài mâu thuẫn nhau một cách vô lý – điều mà nhà thơ Ức Trai quyết không làm.

Và khi đã vào được chữ “diệu” của bài thơ, khi đã hiểu đây là mùa xuân riêng xuất hiện, thì hai câu cuối đến dính liền một cách thoải mái vào hai câu trên. Hiểu là một ngôi thứ ba, một “nhà văn” nào đó nói hộ tâm sự cho giai nhân, và mời hộ gió mở bức thư lá chuối non thì cũng được, tuy nhiên,… đã là thư tình thì chính người viết, người cuộn người gửi lấy bằng cách này hay cách khác cho đối tượng của mình đọc, cho nên tôi muốn hiểu cả bài tứ tuyệt là một ngôi thứ nhất, phía sau cây ba tiêu là một giai nhân tự nói lấy cho mình, đầy phòng ngào ngạt thâu đêm, chẳng lẽ lại người nào cũng ngoài phòng nói điều ấy, phải là người ở trong phòng tự nói:

Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm

Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm

Tình thư một bức phong còn kín.

Bức thư tình của lá: em còn e ấp cuộn lại, còn kín, một cái ghen tuông phóng nhụy, ngôi thứ hai là “gió”, là đối tượng: anh, người mà ta mong mỏi đang ở nơi đâu? Gượng đây không phải là gượng gạo, mà gượng nhẹ, khẽ khàng: Gió nơi đâu gượng mở xem.

Từ lúc Quốc âm thi tập được phát hiện lại (1956) đến nay, bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc.

(Trích “Kỷ niệm sáu trăm năm ngày sinh Nguyễn Trãi”)

————

một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu

Lựa chọn đáp án đúng: một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu

Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại nào? Chỉ ra dấu hiệu nhận biết.

  1. Văn bản truyện, kể về một người bạn.
  2. Văn bản nghị luận xã hội, bàn về cách đánh giá một tác phẩm thơ.
  3. Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ.
  4. Văn bản kí, ghi lại hành trình nhận thức của tác giả.

Câu 2.

Dòng nào sau đây nói lên nội dung của luận điểm 2?

  1. Giá trị bài ở 2 câu kết
  2. Sự huyền diệu của bài thơ
  3. Câu thơ “diệu” hơn cả
  4. Thần của bài thơ: xúc cảm.

Câu 3.

Dòng nào sau đây nói lên nội dung của luận điểm 4?

  1. Giá trị bài ở 2 câu kết
  2. Thần của bài thơ: xúc cảm.
  3. Câu thơ “diệu” hơn cả
  4. Sự huyền diệu của bài thơ

Câu 4.

Thái độ của tác giả đối với ý kiến: Bản Đào Duy Anh chú: – “Buồng lạ: chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ. Mầu thâu đêm: “chuối chín thơm ngát suốt cả đêm” như thế nào?

  1. Phủ nhận hoàn toàn.
  2. Ban đầu phủ nhận nhưng sau lại đồng tình.
  3. Không quan tâm mà chỉ điểm đến như lời dẫn.
  4. Ban đầu đồng ý nhưng sau lại không đồng tình.

Câu 5.

Theo tác giả, Bản Đào Duy Anh chú: – “Buồng lạ”: chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ chi phối cách hiểu bài thơ như thế nào?

  1. Là hai bài thơ chồng lên nhau, chứ không phải một bài.
  2. Bởi hai câu đầu nói tới “buồng lạ”, buồng chuối, hai câu sau thì nói tới lá chuối non.
  3. Như vậy phải là hai cây chuối khác nhau ở trong bài thơ, như vậy là hai bài thơ chắp vào nhau trong 4 câu.
  4. Tất cả các ý trên.

Câu 6.

Dòng nào nói lên mục đích của luận điểm số 2 (từ Câu thứ hai đến như thế hay sao)?

  1. Khẳng định bài thơ đang nói tới hai cây chuối khác nhau.
  2. Phân tích một cách hiểu chưa hợp lí về câu thơ số 2 trong bài Ba tiêu.
  3. Phân tích ý nghĩa của thơ số 2 trong bài Ba tiêu.
  4. Chữ “mầu” trong câu thơ thứ 2 phải hiểu là “mùi” mới đúng.

Câu 7.

Vì sao, tác giả “thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ”?

  1. Tôi không cần phải “phát hiện” hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết.
  2. Ba tiêu chính là một bài thơ nguyên khôi, nhất quán, của Nguyễn Trãi làm.
  3. Trước đây tại vì tôi chưa hiểu nổi, nên mới thắc mắc.
  4. Tất cả các ý trên.

Câu 8.

Lập luận: Ta hẵng để ý: tại sao Nguyễn Trãi không viết “lại tốt thêm”. Lại tốt thêm thì có vẻ dung tục, không đủ trân trọng… nhằm mục đích gì?

  1. Có thể dùng “lại tốt thêm” thay thế cho “tốt lại thêm”.
  2. “tốt lại thêm” biểu đạt ý tuyệt vời nhất.
  3. Cách hiểu chính xác về “tốt lại thêm”.
  4. Có thể dùng từ khác thay thế cho “tốt lại thêm”.

Câu 9.

Dẫn chứng “Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua – Mùa xuân tới, mà không ai biết cả” để làm sáng tỏ cho luận điểm nào sau đây?

  1. Câu thơ “diệu” hơn cả.
  2. Sự huyền diệu của bài thơ.
  3. Thần của bài thơ: xúc cảm.
  4. Vẻ đẹp của toàn bài thơ.

Câu 10.

Dòng nào nói lên mục đích của luận điểm số 5 của văn bản?

  1. Làm rõ bài thơ là một thể thống nhất – lời giai nhân tự nói cho mình.
  2. Người đọc hiểu đúng về chữ “gượng”.
  3. Làm rõ đối tượng tâm tình: anh, người mà ta mong ; mỏi đang ở nơi đâu?
  4. Phủ nhận ý: ngôi thứ ba, một “nhà văn” nào đó nói hộ tâm sự cho giai nhân.

Câu 11.

Dòng nào nói lên đặc điểm dẫn chứng/bằng chứng trong văn bản trên?

  1. Dẫn chứng trực tiếp.
  2. Dẫn chứng gián tiếp.
  3. Dẫn chứng thuộc bài thơ Ba tiêu, bài thơ khác và chú giải.
  4. Dẫn chứng phong phú, đa dạng (thơ và văn xuôi).

Câu 12.

Văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu” phân tích sâu sắc nhất ý nghĩa của câu thơ nào trong bài thơ tứ tuyệt đó?

  1. Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm.
  2. Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm.
  3. Tình thư một bức phong còn kín.
  4. Gió nơi đâu gượng mở xem.

Câu 13.

Dòng không nói lên mục đích của văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu”?

  1. Một bài tứ tuyệt, nhất quán, nguyên khôi.
  2. Cái thần của bài thơ không ở hai câu 3, 4, một hình tượng, mà ở câu 2, một xúc cảm: “Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm”.
  3. Bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc.
  4. Yếu tố biểu cảm thể hiện cảm xúc của tác giả.

Trả lời câu hỏi sau: một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu

Câu 14.

Xác định, phân tích vai trò của một số yếu tố biểu cảm trong văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu”- Xuân Diệu.

Câu 15.

Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Gượng đây không phải là gượng gạo, mà gượng nhẹ, khẽ khàng: Gió nơi đâu gượng mở xem không? Vì sao ?

 

một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu
một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu

Gợi ý trả lời

Lựa chọn đáp án đúng: một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu

Câu 1. C Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ.

Câu 2.C Câu thơ “diệu” hơn cả

Câu 3.B Thần của bài thơ: xúc cảm.

Câu 4.D Ban đầu đồng ý nhưng sau lại không đồng tình.

Câu 5. D Tất cả các ý trên.

Câu 6. B Phân tích một cách hiểu chưa hợp lí về câu thơ số 2 trong bài Ba tiêu.

Câu 7.D Tất cả các ý trên.

Câu 8.B tốt lại thêm” biểu đạt ý tuyệt vời nhất.

Câu 9.C Thần của bài thơ: xúc cảm.

Câu 10. A  Làm rõ bài thơ là một thể thống nhất – lời giai nhân tự nói cho mình.

Câu 11. C Dẫn chứng thuộc bài thơ Ba tiêu, bài thơ khác và chú giải.

Câu 12.B Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm.

Câu 13.D Yếu tố biểu cảm thể hiện cảm xúc của tác giả.

 một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu

Trả lời câu hỏi sau: một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; đọc hiểu một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu ; trắc nghiệm một bài thơ của nguyễn trãi ba tiêu

Câu 14.

– Câu văn có yếu tố biểu cảm.

+ Tôi bỗng “Ồ” lên một tiếng và thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ. Tôi không cần phải “phát hiện” hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết, mà đây chính là một bài thơ nguyên khối, nhất quán, của Nguyễn Trãi.

+ “đầy buồng lạ mầu thâu đêm”, và chữ “lạ” với chữ “mầu” làm cho câu thơ chữ Nôm còn dào dạt ngạt ngào hơn câu thơ chữ Hán, đến nỗi đầy cả một buồng.

+ Từ lúc Quốc âm thi tập được phát hiện lại (1956) đến nay, bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc.

– Xuân Diệu không bộc lộ trực tiếp cảm xúc bằng những câu văn riêng biệt mà đan cài vào các câu phân tích để thể hiện cảm xúc hân hoan, say mê của mình khi khám phá giá trị và hiểu trọn vẹn bài thơ ba tiêu. -> Cảm xúc ấy lan tỏa tác động vào xúc cảm của người đọc…

Câu 15.

– HS tự làm theo hiểu biết cá nhân.

– Tham khảo cách thực hiện:

+ Gắn từ “gượng” vào chỉnh thể bài thơ để thấy cách hiểu hợp lí.

+ Phân tích cách hiểu chưa hợp lí (rõ lí do).

-> Suy luận để khẳng định ý kiến của cá nhân.

 

THPT Lý Thường Kiệt

Đăng bởi: Trường THPT Lý Thường Kiệt

Chuyên mục: Đọc hiểu văn bản

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button