Hỏi đápLớp 8Tài liệu Học Tập

Người đứng đầu trong phái chủ chiến của triều đình Huế là ai?

Người đứng đầu trong phái chủ chiến của triều đình Huế là ai? Mời các em cùng thầy cô đi tìm câu trả lời trong bài viết sau đây để tìm được câu trả lời chính xác nhất nhé!

Người đứng đầu trong phái chủ chiến của triều đình Huế là ai?

Câu hỏi: Người đứng đầu trong phái chủ chiến của triều đình Huế là ai?

A. Phan Thanh Giản

Bạn đang xem: Người đứng đầu trong phái chủ chiến của triều đình Huế là ai?

B. Vua Hàm Nghi

C. Tôn Thất Thuyết

D. Nguyễn Văn Tường

Đáp án đúng: C. Tôn Thất Thuyết

Giải thích: Dựa vào phong trào kháng chiến của nhân dân, phái chủ chiến trong triều đình Huế, đại diện là Tôn Thất Thuyết mạnh tay hành động.

Hoàn cảnh lịch sử khi xảy ra phái chủ chiến của triều đình Huế

Bắc Kỳ sau 1884 có thể coi là bị lọt hết vào bàn tay của quân đội viễn chinh Pháp.

Tại Huế, triều đình cũng chia ra 2 phe: phe chủ chiến có hai ông Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường, chủ hòa (còn được gọi là “chủ hàng”) có Trần Tiễn Thành, Nguyễn Hữu Độ, Gia Hưng quận vương… Với danh nghĩa Phụ chính đại thần, hai ông Thuyết, Tường, nắm hết quyền hành và ra mặt triệt hạ hết các nhân vật của phe chủ hòa và huy động việc kháng chiến từ Trung ra Bắc.

Khâm sai Hoàng Kế Viêm trở ra hoạt động tại Sơn Tây, Trương Quang Đản ở Bắc Ninh, Tạ Hiện ở Nam Định, Phạm Vũ Mẫn, Nguyễn Thiện Thuật ở các tỉnh khác. Các ông này đều là các quan văn võ cao cấp của triều đình, hưởng ứng lời hịch Cần Vương. Bị Pháp phản đối nhiều lần lại thêm thất trận nặng nề nên lúc này ông Tường phải ngoại giao khéo léo với người Pháp để ông Thuyết ngầm tổ chức kháng chiến.

Ở Trung, đoàn quân Phấn Nghĩa có hàng vạn người được bí mật sửa soạn chờ ngày tổng phản công. Tại Tân Sở, phe kháng chiến xây dựng một chiến khu với mục đích bên trong tiếp ứng cho Quảng Bình, Quảng Trị, phía ngoài có thể liên lạc với các miền thượng du Thanh Nghệ và có đường rút sang Lào và Xiêm La. Quân đội đóng ở đây có hơn một ngàn với hơn 20 đại pháo. Chiến khu này xét ra là con đường lùi của phe chủ chiến một khi cuộc đánh úp đồn Mang Cá của họ bị thất bại. Tôn Thất Thuyết cũng cho chôn giấu ở đây một nửa ngân khố của triều đình, gồm 300.000 lạng vàng, để chuẩn bị khả năng chiến đấu lâu dài.

Vua Kiến Phúc ở ngôi được hơn 6 tháng thì lâm bệnh qua đời ngày mồng 7 tháng 4 năm Giáp Thân (tức 1 tháng 5 năm 1884) nên em ông là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, khi đó mới 12 tuổi, lên ngôi, lấy niên hiệu Hàm Nghi. Để đánh dấu những biến cố trên đây, sĩ phu Việt Nam đă có hai câu thơ:

Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết
Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường

Khâm sứ Rheinart trách cứ rằng việc đặt vua Hàm Nghi lên ngôi không có xin phép nước Pháp và đại tá Guerrier đem 600 quân cùng một đội pháo binh từ Bắc vào Huế để thị uy. Quân Pháp do thiếu tá Guerrier chỉ huy được lệnh chiếm đồn Mang Cá. Sau đó ông Rheinart và Guerrier sang làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi rồi mới rút binh sĩ về Hà Nội.

Bấy giờ, phái chủ chiến ở Huế vì tương quan lực lượng yếu hơn, nên phải chịu chấp nhận. Mặt khác họ cũng lo tổ chức việc bố phòng để chuẩn bị cho trận chiến đấu sắp đến. Thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết cho đặt 300 khẩu thần công lên mặt thành; dựng các tấm thuẫn đan bằng mây tre và bọc hai lớp da trâu để cản bớt sức công phá của đại bác địch trên mặt thành. Mặt khác, ông đã cho vận chuyển khí giới, lương thực ra Tân Sở (Quảng Trị) là hậu cứ của triều đình.

Theo người Pháp thì có thể rối loạn to về phía triều đình Việt Nam sau khi Hòa ước Thiên Tân ký vào ngày 27 tháng 4 năm 1885, tức năm Quang Tự thứ 11 (Ất Dậu), giữa Patenôtre đại diện Pháp và Lý Hồng Chương đại diện Thanh triều, Pháp liền dốc toàn lực để tiêu diệt cuộc kháng cự của Cần Vương mà thái độ giờ phút đó rất khả nghi và quan ngại.

Về phía triều định Huế, lợi dụng quân Pháp vừa thua trận ở Lạng Sơn; triều đình gửi công hàm cho Pháp yêu cầu họ rút quân ra khỏi Mang Cá, đồng thời phản đối việc quan lại bị bắt ở Bắc Kỳ, phản đối việc khám xét tàu thuyền và đòi trả lại tiền thuế cho khai thác mỏ và buôn thuốc phiện… Các yêu cầu đó, cùng với việc bố trí phòng thủ, khiến cho Pháp quyết định tiến vào đánh chiếm kinh đô Huế, mục đích là để tiêu diệt cho bằng được nhóm chủ chiến đang nắm ảnh hưởng lớn tại triều đình.

Ngày 21 tháng 5 năm 1885, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp chỉ thị cho Lemaitre- Khâm sứ Pháp ở Huế:

“Không thể không trừng phạt hành vi của viên Thượng thư Bộ Binh nước Nam. Ông cho triều đình nước ấy biết rằng chúng ta không chịu để cho ông Thuyết ở chức Phụ chánh lâu hơn nữa. Ông phải đòi người ta bãi chức ông ấy và đưa đi xa…”.

Cuối tháng 5 năm 1885, tướng De Courcy được bổ làm Toàn quyền chính trị và quân sự tại Bắc và Trung Kỳ. Vừa đến Việt Nam, ông ta tuyên bố: “Cái gút thắt của vấn đề Việt Nam là ở Huế…”. Ngày 18 tháng 4 năm Ất Dậu (tức 12 tháng 5 năm 1885), tướng De Courcy vừa sang tới Bắc Kỳ đã vào ngay Huế bàn việc giao thiệp giữa ông với Nam triều.

Ngày 2 tháng 7 năm 1885, De Courcy đến Huế, cùng đạo quân gồm 1 tiểu đoàn lính Phi châu dưới quyền chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Metziuyer, trong đó có 16 sĩ quan và 870 binh lính; 1 đơn vị đặc nhiệm lấy từ tiểu đoàn quân sơn cước do Boines chỉ huy, gồm 3 sĩ quan và 157 lính. Tổng cộng có 19 sĩ quan và 1024 binh lính.

Viên tướng Pháp yêu cầu Nam triều ra lệnh cho sĩ phu và dân chúng tuân phục hoàn toàn chính thể bảo hộ. Để đáp lại việc Tôn Thất Thuyết cho chĩa đại bác từ Đại Nội vào đồn Mang Cá, phía Pháp cho thiếu tá Pernot dẫn quân tuần tiễu quanh Đại Nội. Người thay Rheinard (lúc đó vẫn chỉ là một quan chức nhỏ) là Lemaire, cựu công sứ Pháp tại Thượng Hải thuyết phục được Tôn Thất Thuyết rút đại bác khỏi các vị trí bố phòng nhắm vào quân Pháp. Nhưng phía Pháp không biết được rằng Tôn Thất Thuyết sau khi rút đại bác ra đã bí mật cho chở chúng lên căn cứ Tân Sở.

De Courcy có ý nhân dịp này bắt Tôn Thất Thuyết ngay giữa cuộc đàm phán, do ông này là linh hồn của phe chủ chiến. Thuyết biết mưu này liền cáo ốm không sang và để Nguyễn Văn Tường cùng Phạm Thận Duật sang gặp De Courcy. Theo đại úy Gosselin, nhược điểm lớn nhất của De Courcy là việc ông này hoàn toàn mù quáng về tình hình Việt Nam. Ông cứ tưởng triều đình và dân chúng An Nam khiếp nhược trước sức mạnh của Pháp, và đề nghị với Paris giải quyết tình hình bằng vũ lực.

Khi hiệp thương với Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật, tướng De Courcy đã yêu cầu chỉ khi nào Tôn Thất Thuyết lành bệnh thì mới định ngày vào gặp vua, đồng thời cử bác sĩ Maugin sang chữa bệnh cho ông, đòi ông Thuyết nếu ốm thì nằm cáng mà sang sứ quán Pháp nhưng Thuyết không chịu.

Ngoài ra, Pháp còn đặt điều kiện là khi phái đoàn vào đến Hoàng thành, vua Hàm Nghi phải bước xuống ngai vàng đích thân ra đón. Ông ta còn đòi tất cả nhân viên trong phái đoàn của Pháp, phải được đi vào Đại Nội bằng của chính Ngọ Môn chứ không chịu đi một mình. De Courcy khước từ quà tặng của vua Hàm Nghi, và tuyên bố “nếu các người muốn yên ổn, thì trong 3 ngày phải nộp 200.000 thỏi vàng, 200.000 thỏi bạc và 200.000 francs”. Sự ngạo mạn và lăng nhục của phía Pháp khiến phe chủ chiến tức giận và quyết định ra tay trước

Nguyên nhân, diễn biến cuộc phản công của phái chủ chiến tại kinh thành Huế

Nguyên nhân

Nhà Nguyễn vẫn hi vọng giành chính quyền

Phe chủ chiến nhà Nguyễn vẫn hi vọng giành lại chính quyền, không chịu đầu hàng mà kiên quyết đáp trả đến cùng. Thời điểm lúc bấy giờ (1984) đang đi vào hồi kết của cuộc chiến của Pháp và Việt Nam. Bắc Kỳ gần như nằm trọn trong tay Pháp. Nhà Nguyễn tại Huế nhu nhược, xảy ra sự tranh chấp giữa 2 phái: phái chủ chiến (đứng đầu là Tôn Thất Thuyết) và phái chủ hòa.

Tôn Thất Thuyết cùng phái chủ chiến thực hiện nhiều hành động chống phá Pháp như: tấn công vào Tòa Khâm sứ Pháp ở Huế (5/7/1885), phục binh giết võ quan Pháp Francis Garnier, chuẩn bị lực lượng chống Pháp, phản đối Hiệp ước Harmand.

Pháp muốn diệt cỏ tận gốc

Tuy đã nắm Bắc Kỳ gần hết trong tay, nhưng trước phản ứng của phái chủ chiến Pháp vẫn khá lo sợ và muốn diệt cỏ tận gốc. Tôn Thất Thuyết trở thành mối đe dọa và cần được giải quyết hàng đầu trong mắt Pháp. Để bảo vệ chính mình, giành lấy thế chủ động, Tôn Thất Thuyết đã tấn công vào Tòa Khâm sứ Pháp.

Như vậy, cuộc phản công ở kinh thành Huế xuất phát từ 2 nguyên nhân chính bởi nhà Nguyễn vẫn hi vọng giành chính quyền, đồng thời thực dân Pháp lại muốn diệt cỏ tận gốc.

Diễn biến

Ngày 4/7/1885: Pháo đài Mang Cá và Tòa Khâm sứ – nơi đóng quân của địch trở thành đối tượng tấn công của phe chủ chiến. Tôn Thất Thuyết cho đặt đại bác, đóng cửa thành, đặt đại bác rồi bí mật chia quân làm 2 đạo.

Một đạo do Tôn Thất Lễ – em của Tôn Thất Thuyết đứng đầu. Đạo này vượt sông Hương, hợp với đạo quân của Đô đốc Hải sư Hiệp Lý, chế ngự sứ thần. 5000 thủy thủ đã chiến đấu dũng cảm.
Một quân do Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn chỉ huy ở bên sông, quân còn lại chặn viện binh ở Trấn Bình Đài.

Một toán quân khác được cử đến phục kích ở cầu Thành Long đánh sập chỉ huy đồn Mang Cá – Pemot. Một đội quân khác ở sau Thành cổ để tiếp viện kịp thời.

Đêm mồng 5 rạng sáng mồng 5 tháng 7 năm 1885, đại bác nổ, Trấn Bình Đài bị tấn công, quân của Tôn Thất Lễ vào sứ thì quân Pháp đói khát khao thưởng nghĩa quân khiến chúng quá bất ngờ. Hậu quả là tòa Khâm sứ bị hư hại nặng, đồn Mang Cá bị đốt cháy, quân Pháp thiệt hại nặng.

Như đã thấy sự thất bại của phản công ở kinh thành HuếVua Hàm Nghi may mắn được Tôn Thất Thuyết bắt đi.

Quân Pháp bị bất ngờ, nhưng vẫn phòng ngự đến sáng và phản công khi mặt trời mọc. Súng Javelin và pháo hạm của Pháp được huy động. Ta đã phá hủy nhiều cung điện và Hoàng thành.

3 cánh quân Pháp tiến vào thành, nhanh chóng chiếm 3 trọng điểm là Kinh thành, vườn Thượng Uyển và cửa Hiển Nhơn. Quân ta bị bất ngờ, tuy tiêu diệt được thiếu úy Pellicot nhưng bị thiệt hại nặng. Quân Pháp tiến vào thành, hạ cờ ta và dựng cờ trên cột cờ.

Kết quả và ý nghĩa của cuộc phản công ở kinh thành Huế

Kết quả cuộc phản công ở kinh thành Huế

Kiểm điểm lại trận đánh tại Kinh thành đêm 22 tháng 5 năm Ất Dậu (1885), thất bại hoàn toàn về phía triều đình Huế. Pháp chỉ chết có 16 người, bị thương 80 người, còn quân Nam chết đến 1.200-1.500 người. Quân Pháp khi chiếm được kho vũ khí thu được 812 súng thần công, 16.000 súng hỏa mai, khí giới, lương thực mất đến hàng triệu bạc.

Dù đã chuẩn bị khá cẩn thận trong việc tấn công đồn địch, nhưng vì thiếu thông tin liên lạc, nhất là khi phải đánh đột kích trong đêm tối, hơn nữa vũ khí yếu kém, không có sức công phá lớn và không thể bắn được tầm xa nên quân Nam đã thua trận. Quân Pháp chiếm được một số lớn của cải mà triều đình chưa kịp chuyển đi, gồm 2.6 tấn vàng và 30 tấn bạc, trong số này chỉ có một phần rất nhỏ sau này được hoàn lại cho triều đình Huế. Còn lại, số 700.000 lạng bạc phải được 5 lính Pháp đóng hòm trong 5 ngày mới xong và chở về Pháp

Nguyên nhân khiến cuộc phản công ở kinh thành Huế thất bại

Có 4 Nguyên nhân của cuộc phản công kinh thành Huế:

  • Thứ nhất, quân ta tuy chủ động tấn công nhưng vũ khí của chúng thua xa quân Pháp (sức công phá thấp, không bắn xa được).
  • Sự chuẩn bị chưa thực sự kỹ lưỡng, vội vàng và hấp tấp.
  • Lực lượng của Pháp vẫn mạnh
  • Kế hoạch đánh chiếm bị bại lộ nên quân Pháp đề phòng, chuẩn bị phản công.

Ý nghĩa cuộc phản công kinh thành Huế

Ý nghĩa của cuộc phản công kinh thành Huế là khẳng định ý chí, tinh thần yêu nước, chiến đấu đến cùng vì độc lập tự do của con dân nước Nam.

*****

Trên đây là nội dung bài viết trả lời cho câu hỏi Người đứng đầu trong phái chủ chiến của triều đình Huế là ai? do thầy cô trường THPT Lý Thường Kiệt biên soạn. Hy vọng nội dung bài học sẽ là nguồn tài liệu hữu ích phục vụ tốt các em trong quá trình học tập. Chúc các em luôn đạt điểm cao trong mọi bài kiểm tra, bài thi trên lớp.

Bài viết được biên soạn bởi thầy cô trường Lý Thường Kiệt trong chuyên mục Tài liệu học tập

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button